Woman: Hi Coleman, how are you? (Chào Coleman, dạo này bạn thế nào?)
Coleman: Good, thanks. (Mình khỏe, cảm ơn bạn.)
Woman: I wanted to have a chat with you because our friend Josh told me that you’ve joined a guitar group and it sounds interesting. I’d really like to learn myself. (Mình muốn nói chuyện với bạn vì Josh nói rằng bạn đã tham gia một nhóm học guitar và nghe có vẻ thú vị. Mình cũng rất muốn học.)
Coleman: Why don’t you come along? I’m sure there’s room for another person. (Sao bạn không đến tham gia luôn? Mình chắc là vẫn còn chỗ cho thêm một người.)
Woman: Really? So – who runs the classes? (Thật sao? Vậy ai là người phụ trách lớp học?)
Coleman: He’s called a ‘coordinator’ – his name’s Gary Mathieson. Q1 (Ông ấy được gọi là “điều phối viên” – tên ông ấy là Gary Mathieson.)
Woman: Let me note that down. Gary… How do you spell his surname? (Để mình ghi lại. Gary… Bạn đánh vần họ của ông ấy như thế nào?)
Coleman: It’s M-A-T-H-I-E-S-O-N. (M-A-T-H-I-E-S-O-N.)
Woman: Right, thanks. (Được rồi, cảm ơn.)
Coleman: He’s retired, actually, but he’s a really nice guy and he used to play in a lot of bands. (Thực ra ông ấy đã nghỉ hưu, nhưng là một người rất dễ mến và từng chơi trong rất nhiều ban nhạc.)
Woman: Thanks. So how long have you been going? (Cảm ơn. Vậy bạn đã tham gia được bao lâu rồi?)
Coleman: About a month now. (Khoảng một tháng rồi.)
Woman: And could you play anything before you started? (Trước khi bắt đầu bạn có biết chơi gì không?)
Coleman: I knew a few chords, but that’s all. (Mình biết vài hợp âm thôi, ngoài ra thì không.)
Woman: I’m sure everyone will be better than me. (Mình chắc là mọi người sẽ giỏi hơn mình nhiều.)
Coleman: That’s what I thought, too. When I first spoke to Gary on the phone, he said it was a class for beginners, but I was still worried that everyone would be better than me, but we were all equally hopeless! Q2 (Mình cũng nghĩ như vậy. Khi lần đầu nói chuyện với Gary qua điện thoại, ông ấy bảo đây là lớp cho người mới bắt đầu, nhưng mình vẫn lo mọi người sẽ giỏi hơn mình, hóa ra ai cũng vụng về như nhau.)
Woman: Oh, that’s reassuring. So where do you meet? (Ồ, nghe vậy thì yên tâm rồi. Vậy các bạn gặp nhau ở đâu?)
Coleman: Well, when I joined the group, they were meeting in Gary’s home, but as the group got bigger, he decided to book a room at the college in town. I prefer going there. Q3 (Lúc mình mới tham gia thì nhóm gặp ở nhà Gary, nhưng khi nhóm đông hơn, ông ấy quyết định đặt một phòng ở trường cao đẳng trong thị trấn. Mình thích đến đó hơn.)
Woman: I know that place. I used to go to tap dancing classes there when I was at secondary school. I haven’t been since, though and I can’t remember what road it’s in… is it Lock Street? (Mình biết chỗ đó. Hồi học cấp hai mình từng học nhảy tap ở đó. Nhưng từ đó tới giờ mình chưa quay lại nên không nhớ là ở đường nào… có phải Lock Street không?)
Coleman: It’s just beyond there at the bottom of New Street near the city roundabout. Q4 (Nó nằm ngay phía dưới New Street, gần vòng xuyến của thành phố.)
Woman: Yes, of course. (À đúng rồi.)
Coleman: The guitar club is on the first floor in Room T347. (Câu lạc bộ guitar ở tầng một, phòng T347.)
Woman: Right. And when do you meet? Is it at the weekend? (Được rồi. Thế các bạn gặp nhau khi nào? Cuối tuần à?)
Coleman: We meet on Thursdays. It used to be 10.30 and that suited me well, but now we meet at 11. The class that’s in there before us asked if they could have the room for another 30 minutes. Q5 (Chúng mình gặp nhau vào thứ Năm. Trước đây là 10 giờ 30 và rất hợp với mình, nhưng giờ chuyển sang 11 giờ vì lớp học trước đó xin dùng phòng thêm 30 phút.)
Woman: Oh, I see. Well, I’d love to come, but I don’t have a guitar. (À, mình hiểu rồi. Mình rất muốn tham gia nhưng lại không có đàn guitar.)
Coleman: Well, you can always buy a second-hand one. There’s a website called ‘The perfect instrument’ that sells all kinds of guitars, violins and so on. I’m sure you’ll find something there. Q6 (Bạn có thể mua một cây đàn cũ. Có một trang web tên là “The perfect instrument” bán đủ loại đàn guitar, violin và nhiều nhạc cụ khác. Mình chắc bạn sẽ tìm được một cây phù hợp.)
Woman: So what’s a typical lesson like with Gary? (Vậy một buổi học điển hình với Gary diễn ra như thế nào?)
Coleman: Well, he always starts by getting us to tune our guitars. That takes about five minutes. (Ông ấy luôn bắt đầu bằng việc cho chúng mình chỉnh dây đàn, mất khoảng năm phút.)
Woman: Uhuh. (Ừm.)
Coleman: Some people have an app they use, but others do it by ear. Gary goes round and helps them. And while he’s doing that, he tells us what he’s going to do during the lesson. Q7 (Một số người dùng ứng dụng, số khác chỉnh bằng tai. Gary đi quanh và giúp họ, đồng thời nói cho chúng mình biết ông ấy sẽ làm gì trong buổi học.)
Woman: Right. (Ừ.)
Coleman: First, we usually spend about ten minutes doing some strumming. (Đầu tiên, chúng mình thường dành khoảng mười phút để tập gảy đàn.)
Woman: So is that using… what are they called… plectrums? (Vậy là dùng… gọi là gì nhỉ… miếng gảy à?)
Coleman: No – we just use our thumbs. (Không – chỉ dùng ngón cái thôi.)
Woman: Much easier. (Dễ hơn nhiều.)
Coleman: Gary reminds us where to put our fingers for each chord and then we play them together. Sometimes we all just start laughing because we’re so bad at keeping time, so Gary starts clapping to help us. Q8 (Gary nhắc chúng mình đặt ngón tay ở đâu cho từng hợp âm rồi cùng nhau chơi. Đôi khi tất cả đều bật cười vì chúng mình giữ nhịp quá kém nên Gary phải vỗ tay để giúp giữ nhịp.)
Woman: Do you learn to play any songs? (Các bạn có học chơi bài hát nào không?)
Coleman: Yes – we do at least one song with words and chords. I mean that’s harder than you think. (Có – ít nhất là một bài có lời và hợp âm. Thực sự khó hơn bạn tưởng.)
Woman: Oh, I’m sure it is! (Ồ, mình chắc vậy!)
Coleman: That part of the lesson takes about 15 minutes. He often brings a recording of the song and plays it to us first. Then he hands out the song and if there’s a new chord in it, we practise that before we play it together – but really slowly. Q9 (Phần đó mất khoảng mười lăm phút. Ông ấy thường mang theo bản thu của bài hát và cho chúng mình nghe trước, rồi phát bản nhạc. Nếu có hợp âm mới, chúng mình sẽ tập trước khi chơi cùng nhau – nhưng rất chậm.)
Woman: Do you do any finger picking? (Các bạn có tập móc dây bằng ngón tay không?)
Coleman: That’s the last ten minutes of the lesson, when we pick out the individual notes from a tune he’s made up. It’s always quite simple. (Đó là mười phút cuối của buổi học, khi chúng mình móc từng nốt riêng lẻ trong một giai điệu ông ấy sáng tác. Lúc nào cũng khá đơn giản.)
Woman: That must be hard, though. (Nhưng chắc cũng khó nhỉ.)
Coleman: It is, but people like it because they can really concentrate and if we’re all playing well, it sounds quite impressive. The only trouble is that he sometimes gets us to play one at a time – you know, alone. Q10 (Đúng là khó, nhưng mọi người thích vì có thể tập trung cao độ và nếu ai cũng chơi tốt thì nghe rất ấn tượng. Chỉ có điều đôi khi ông ấy bắt từng người chơi một mình.)
Woman: That’s scary. (Nghe đáng sợ thật.)
Coleman: It is, but I’ve got used to it now. At the end he spends about five minutes telling us what to practise for the following week. (Đúng vậy, nhưng giờ mình đã quen rồi. Cuối buổi ông ấy dành khoảng năm phút để nói chúng mình cần luyện tập gì cho tuần sau.)
Woman: Well, thanks Coleman. I’ll go and have a look at that website, I think. (Cảm ơn nhé Coleman. Mình sẽ vào xem trang web đó.)
>> Xem thêm: 9 mẹo luyện kỹ năng nghe tiếng anh hiệu quả cho người mới
2.2. Transcript Part 2
I never really planned to be a lifeboat volunteer when I came to live in Northsea. I’d been working in London as a website designer, but although that was interesting, I didn’t like city life. I’d been really keen on boats as a teenager, and I thought if I went to live by the sea, I might be able to pursue that interest a bit more in my free time. Then I found that the Lifeboat Institution was looking for volunteers, so I decided to apply. Q11 (Tôi chưa bao giờ thực sự có kế hoạch trở thành tình nguyện viên cứu hộ khi chuyển đến sống ở Northsea. Trước đó tôi làm thiết kế website ở London, nhưng dù công việc khá thú vị, tôi lại không thích cuộc sống thành phố. Khi còn là thiếu niên tôi rất đam mê thuyền bè và tôi nghĩ nếu chuyển ra sống gần biển thì mình có thể theo đuổi sở thích đó nhiều hơn trong thời gian rảnh. Sau đó tôi biết được Tổ chức Cứu hộ đang tìm tình nguyện viên nên tôi quyết định nộp đơn.)
The Lifeboat Institution building here in Northsea’s hard to miss; it’s one of the largest in the country. It was built 15 years ago with funds provided by a generous member of the public, who’d lived here all her life. As the Lifeboat Institution is a charity that relies on that kind of donation, rather than funding provided by the government, that kind of help is much needed. Q12 (Tòa nhà của Tổ chức Cứu hộ tại Northsea rất dễ nhận ra; nó là một trong những cơ sở lớn nhất cả nước. Công trình này được xây dựng cách đây 15 năm bằng nguồn tài trợ của một người dân hào phóng đã sống ở đây cả đời. Vì Tổ chức Cứu hộ là một tổ chức từ thiện phụ thuộc vào các khoản quyên góp như vậy chứ không phải nguồn tiền của chính phủ nên sự hỗ trợ này là vô cùng cần thiết.)
When I applied, I had to have a health assessment. The doctors were particularly interested in my vision. I used to be short-sighted, so I’d had to wear glasses, but I’d had laser eye surgery two years earlier so that was OK. They gave me tests for colour blindness and they thought I might have a problem there, but it turned out I was OK. Q13 (Khi nộp đơn, tôi phải trải qua một cuộc kiểm tra sức khỏe. Các bác sĩ đặc biệt quan tâm tới thị lực của tôi. Trước đây tôi bị cận thị nên phải đeo kính, nhưng tôi đã phẫu thuật laser mắt hai năm trước nên không còn vấn đề gì. Họ cho tôi làm các bài kiểm tra mù màu và lúc đầu nghĩ rằng tôi có thể có vấn đề, nhưng cuối cùng thì tôi vẫn bình thường.)
When the coastguard gets an alert, all the volunteers are contacted and rush to the lifeboat station. Our target’s to get there in five minutes, then we try to get the boat off the dock and out to sea in another six to eight minutes. Our team’s proud that we usually achieve that – the average time across the country’s eight and a half minutes. Q14 (Khi lực lượng bảo vệ bờ biển nhận được tín hiệu báo động, tất cả các tình nguyện viên sẽ được liên lạc và chạy nhanh đến trạm cứu hộ. Mục tiêu của chúng tôi là tới đó trong vòng năm phút, sau đó đưa thuyền rời bến và ra biển trong khoảng sáu đến tám phút tiếp theo. Đội của chúng tôi rất tự hào vì thường xuyên đạt được điều này – trong khi thời gian trung bình trên toàn quốc là tám phút rưỡi.)
As well as steering the lifeboat, as a ‘helmsman’, I have the ultimate responsibility for the lifeboat. I have to check that the equipment we use is in working order – we have special life jackets that can support up four people in the water. And it’s ultimately my decision whether it’s safe to launch the boat. But it’s very rare not to launch, even in the worst weather. Q15 (Ngoài việc lái thuyền cứu hộ, với vai trò “thuyền trưởng”, tôi chịu trách nhiệm cao nhất đối với con thuyền. Tôi phải kiểm tra thiết bị xem có hoạt động tốt hay không – chúng tôi có áo phao đặc biệt có thể nâng đỡ tới bốn người dưới nước. Và quyết định có an toàn để xuất phát hay không là do tôi đưa ra. Tuy nhiên, rất hiếm khi chúng tôi không ra khơi, ngay cả trong điều kiện thời tiết xấu nhất.)
As well as going out on the lifeboat, my work involves other things too. A lot of people underestimate how windy conditions can change at sea, so I speak to youth groups and sailing clubs in the area about the sorts of problems that sailors and swimmers can have if the weather suddenly gets bad. We also have a lot of volunteers who organise activities to raise money for us, and we couldn’t manage without them. Q16 (Ngoài việc ra khơi bằng thuyền cứu hộ, công việc của tôi còn bao gồm nhiều nhiệm vụ khác. Nhiều người đánh giá thấp mức độ gió có thể thay đổi nhanh trên biển, nên tôi thường nói chuyện với các nhóm thanh thiếu niên và câu lạc bộ thuyền buồm trong khu vực về những rắc rối mà người đi biển hay người bơi có thể gặp phải khi thời tiết đột ngột xấu đi. Chúng tôi cũng có rất nhiều tình nguyện viên tổ chức các hoạt động gây quỹ và chúng tôi không thể vận hành được nếu thiếu họ.)
The training we get is a continuous process, focusing on technical competence and safe handling techniques, and it’s given me the confidence to deal with extreme situations without panicking. I was glad I’d done a first aid course before I started, as that’s a big help with the casualty care activities we do. We’ve done a lot on how to deal with ropes and tie knots – that’s an essential skill. After a year, I did a one-week residential course, led by specialists. They had a wave-tank where they could create extreme weather conditions – so we could get experience at what to do if the boat turned over in a storm at night, for example. Q17/18 (Quá trình huấn luyện của chúng tôi diễn ra liên tục, tập trung vào năng lực kỹ thuật và các kỹ năng thao tác an toàn, và nó giúp tôi có đủ tự tin để đối phó với những tình huống khắc nghiệt mà không hoảng loạn. Tôi rất mừng vì đã học khóa sơ cứu trước khi bắt đầu, vì nó hỗ trợ rất nhiều cho các hoạt động chăm sóc nạn nhân mà chúng tôi thực hiện. Chúng tôi cũng được học rất nhiều về cách xử lý dây thừng và thắt nút – đó là một kỹ năng thiết yếu. Sau một năm, tôi tham gia một khóa học nội trú kéo dài một tuần do các chuyên gia hướng dẫn. Họ có một bể tạo sóng nơi có thể mô phỏng các điều kiện thời tiết cực đoan – để chúng tôi có thể luyện tập cách xử lý nếu con thuyền bị lật trong cơn bão ban đêm chẳng hạn.)
Since I started, I’ve had to deal with a range of emergency situations. (Kể từ khi bắt đầu công việc, tôi đã phải xử lý nhiều tình huống khẩn cấp khác nhau.)
But the work’s hugely motivating. It’s not just about saving lives – I’ve learned a lot about the technology involved. My background in IT’s been useful here, and I can use my expertise to help other volunteers. They’re a great group – we’re like a family really, which helps when you’re dragging yourself out of bed on a cold stormy night. But actually, it’s the colder months that can be the most rewarding time. That’s when the incidents tend to be more serious, and you realise that you can make a huge difference to the outcome. Q19/20 (Nhưng công việc này mang lại động lực rất lớn. Nó không chỉ là việc cứu người – tôi còn học được rất nhiều về công nghệ liên quan. Nền tảng công nghệ thông tin của tôi rất hữu ích ở đây và tôi có thể dùng chuyên môn của mình để hỗ trợ các tình nguyện viên khác. Họ là một tập thể tuyệt vời – chúng tôi giống như một gia đình thực sự, điều đó giúp ích rất nhiều khi bạn phải lết mình ra khỏi giường vào một đêm lạnh lẽo đầy bão tố. Nhưng thực ra, chính những tháng lạnh lại là thời điểm đáng giá nhất, bởi khi đó các vụ việc thường nghiêm trọng hơn và bạn nhận ra mình có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn cho kết quả.)
>> Xem thêm: Cách luyện IELTS Listening hiệu quả từ con số 0
2.3. Transcript Part 3
Bella: Hi Don – did you get the copy of the article on recycling footwear that I emailed you? (Chào Don – cậu có nhận được bản sao bài báo về việc tái chế giày dép mà tớ gửi email cho cậu không?)
Don: Yeah – it’s here … I’ve had a look at it. (Ừ – nó đây … tớ đã xem qua rồi.)
Bella: So do you think it’s a good topic for our presentation? (Vậy cậu có nghĩ đây là một chủ đề hay cho bài thuyết trình của chúng ta không?)
Don: Well, before I started reading it, I thought recycling footwear, well, although it’s quite interesting, perhaps there isn’t enough to say about it, cos we put shoes in recycling bins, they go to charity shops and that’s about it. Q21 (Trước khi đọc bài này, tớ nghĩ việc tái chế giày dép, dù khá thú vị, nhưng có lẽ không có nhiều điều để nói, vì ta chỉ bỏ giày vào thùng tái chế, rồi chúng được đưa đến các cửa hàng từ thiện và thế là xong.)
Bella: … but there’s much more to it than that. (… nhưng còn nhiều điều hơn thế nữa.)
Don: I realise that now and I’m keen to research the topic more. (Giờ tớ đã nhận ra điều đó và rất muốn nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này.)
Bella: That’s great. (Thật tuyệt.)
Don: One of the things I didn’t realise until I read the article was just how many pairs of trainers get recycled! (Một điều mà tớ không nhận ra cho tới khi đọc bài báo là có rất nhiều đôi giày thể thao được đem đi tái chế!)
Bella: Well, a lot of young people wear them all the time now. They’ve become more popular than ordinary shoes. (À, hiện nay rất nhiều người trẻ đi giày thể thao suốt. Chúng đã trở nên phổ biến hơn giày thường.)
Don: I know. I guess they are very hard-wearing, but don’t they look a bit casual for school uniform? I don’t think they’re right for that. Q22 (Tớ biết. Tớ đoán chúng rất bền, nhưng chẳng phải trông hơi quá xuề xòa so với đồng phục học sinh sao? Tớ không nghĩ chúng phù hợp.)
Bella: Actually, I think some of them look quite smart on pupils … better than a scruffy old pair of shoes. (Thực ra tớ nghĩ một số đôi trông khá gọn gàng trên học sinh … còn đẹp hơn những đôi giày cũ xộc xệch.)
Don: So do you keep shoes a long time? (Vậy cậu giữ giày lâu không?)
Bella: Yes. Though I do tend to wear my old pairs for doing dirty jobs like cleaning my bike. (Có. Nhưng tớ thường dùng những đôi cũ để làm những việc bẩn như lau xe đạp.)
Bella: I must admit, I’ve recycled some perfectly good shoes, that haven’t gone out of fashion and still fit, just because they don’t look great on me any more. That’s awful isn’t it? Q23(Tớ phải thừa nhận là đã đem tái chế một số đôi giày còn rất tốt, chưa lỗi mốt và vẫn vừa chân, chỉ vì chúng không còn trông đẹp trên tớ nữa. Thật tệ phải không?)
Don: I think it’s common because there’s so much choice. The article did say that recent sales of footwear have increased enormously. (Tớ nghĩ điều đó rất phổ biến vì có quá nhiều lựa chọn. Bài báo cũng nói rằng doanh số bán giày dép gần đây đã tăng rất mạnh.)
Bella: That didn’t surprise me. (Điều đó không làm tớ ngạc nhiên.)
Don: No. But then it said that the amount of recycled footwear has fallen: it’s 6 percent now compared to a previous level of 11 percent. That doesn’t seem to make sense. Q24 (Không. Nhưng bài báo nói rằng lượng giày dép được tái chế đã giảm: hiện chỉ còn 6% so với mức trước là 11%. Điều đó nghe không hợp lý.)
Bella: That’s because not everything goes through the recycling process. Some footwear just isn’t good enough to re-sell, for one reason or another, and gets rejected. (Đó là vì không phải tất cả đều được đưa qua quy trình tái chế. Một số giày dép không đủ tốt để bán lại nên bị loại bỏ.)
Bella: So let’s find some examples in the article of footwear that was rejected for recycling. (Vậy hãy tìm trong bài báo một vài ví dụ về những đôi giày bị loại khỏi quá trình tái chế.)
Don: OK. I think there are some in the interview with the recycling manager. Yeah – here it is. (Được. Tớ nghĩ có một số trong bài phỏng vấn người quản lý tái chế. À – đây rồi.)
Bella: Mmm. Let’s start with the ladies’ high-heeled shoes. What did he say about those? (Ừm. Bắt đầu với những đôi giày cao gót nữ nhé. Ông ấy nói gì về chúng?)
Don: He said they were probably expensive – the material was suede and they were beige in colour – it looked like someone had only worn them once, but in a very wet field so the heels were too stained with mud and grass to re-sell them. Q25 (Ông ấy nói có lẽ chúng rất đắt – làm bằng da lộn và màu be – trông như chỉ được đi một lần, nhưng là ở một cánh đồng rất ướt nên gót giày bị dính đầy bùn và cỏ, không thể bán lại.)
Bella: OK … and the leather ankle boots. What was wrong with them? (Được rồi … còn đôi bốt da cổ ngắn thì sao? Chúng bị gì?)
Don: Apparently, the heels were worn – but that wasn’t the problem. One of the shoes was a much lighter shade than the other one – it had obviously been left in the sun. I suppose even second-hand shoes should look the same! Q26 (Có vẻ gót giày đã mòn – nhưng đó không phải vấn đề chính. Một chiếc nhạt màu hơn chiếc còn lại – rõ ràng đã bị phơi nắng. Tớ nghĩ ngay cả giày cũ cũng nên trông giống nhau!)
Bella: Sure. Then there were the red baby shoes. (Đúng rồi. Sau đó là đôi giày trẻ em màu đỏ.)
Don: Oh yes – we’re told to tie shoes together when we put them in a recycling bin, but people often don’t bother. (À đúng – chúng ta được dặn buộc hai chiếc giày lại với nhau khi bỏ vào thùng tái chế, nhưng nhiều người không buồn làm vậy.)
Bella: You’d think it would have been easy to find the other, but it wasn’t. That was a shame because they were obviously new. Q27 (Bạn sẽ nghĩ là dễ tìm chiếc còn lại, nhưng không phải vậy. Thật đáng tiếc vì rõ ràng chúng còn rất mới.)
Don: The trainers were interesting. He said they looked like they’d been worn by a marathon runner. (Những đôi giày thể thao thì rất thú vị. Ông ấy nói trông như đã được đi bởi một vận động viên marathon.)
Bella: Yeah – weren’t they split? (Ừ – chẳng phải chúng bị rách sao?)
Don: Not exactly. One of the soles was so worn under the foot that you could put your finger through it. Q28 (Không hẳn. Một bên đế giày bị mòn đến mức bạn có thể chọc ngón tay xuyên qua.)
Bella: Well, we could certainly use some of those examples in our presentation to explain why 90 percent of shoes that people take to recycling centres or bins get thrown into landfill. (Chúng ta chắc chắn có thể dùng những ví dụ đó trong bài thuyết trình để giải thích vì sao 90% giày dép được đem đến trung tâm hoặc thùng tái chế lại bị đưa vào bãi rác chôn lấp.)
Don: Mmm. What did you think about the project his team set up to avoid this by making new shoes out of the good parts of old shoes? (Ừm. Cậu nghĩ sao về dự án mà nhóm của ông ấy lập ra để tránh điều này bằng cách làm giày mới từ những phần còn tốt của giày cũ?)
Bella: It sounded like a good idea. They get so many shoes, they should be able to match parts. I wasn’t surprised that it failed, though. I mean who wants to buy second-hand shoes really? Think of all the germs you could catch! (Nghe có vẻ là ý tưởng hay. Họ nhận được rất nhiều giày, lẽ ra có thể ghép các bộ phận lại. Nhưng tớ không ngạc nhiên khi nó thất bại. Ý là ai mà muốn mua giày cũ chứ? Nghĩ đến bao nhiêu vi khuẩn bạn có thể nhiễm đi!)
Don: Well, people didn’t refuse them for that reason, did they? It was because the pairs of shoes weren’t identical. Q29 (Nhưng mọi người đâu có từ chối vì lý do đó, đúng không? Là vì các đôi giày không giống hệt nhau.)
Bella: They still managed to ship them overseas, though. (Tuy vậy họ vẫn chuyển chúng ra nước ngoài được.)
Don: That’s another area we need to discuss. (Đó là một khía cạnh khác chúng ta cần thảo luận.)
Bella: You know I used to consider this topic just from my own perspective, by thinking about my own recycling behaviour without looking at the bigger picture. So much happens once shoes leave the recycling area. (Cậu biết không, trước đây tớ chỉ nhìn chủ đề này từ góc nhìn cá nhân, chỉ nghĩ đến hành vi tái chế của bản thân mà không nhìn bức tranh lớn hơn. Rất nhiều chuyện xảy ra sau khi giày rời khỏi khu tái chế.)
Don: It’s not as simple as you first think, and we can show that by taking a very different approach to it. Q30 (Nó không đơn giản như lúc đầu bạn nghĩ, và chúng ta có thể cho thấy điều đó bằng cách tiếp cận theo một hướng rất khác.)
Bella: Absolutely. So let’s discuss … (Chính xác. Vậy chúng ta cùng bàn tiếp nhé …)
>> Xem thêm: Giải đề IELTS Listening Cambridge 14 Test 1: Transcript & Answer
2.4. Transcript Part 4
For my project on invertebrates, I chose to study tardigrades. These are microscopic - or to be more precise - near-microscopic animals. There are well over a thousand known species of these tiny animals, which belong to the phylum Tardigrada. Most tardigrades range in length from 0.05 to 1 millimetre, though the largest species can grow to be 1.2 millimetres in length. They are also sometimes called ‘water bears’: ‘water’ because that’s where they thrive best, and ‘bear’ because of the way they move. Q31. ‘Moss piglet’ is another name for tardigrades because of the way they look when viewed from the front. They were first discovered in Germany in 1773 by Johann Goeze, who coined the name Tardigrada. (Với dự án về động vật không xương sống, tôi chọn nghiên cứu tardigrade. Đây là những sinh vật hiển vi – hay chính xác hơn là gần như hiển vi. Có hơn một nghìn loài tardigrade đã được biết đến, thuộc ngành Tardigrada. Hầu hết tardigrade có kích thước từ 0,05 đến 1 mm, mặc dù loài lớn nhất có thể dài tới 1,2 mm. Chúng còn được gọi là “gấu nước”: “nước” vì đó là nơi chúng phát triển tốt nhất, và “gấu” vì cách chúng di chuyển. “Heo rêu” là một tên gọi khác của tardigrade vì hình dạng của chúng khi nhìn từ phía trước. Chúng được phát hiện lần đầu ở Đức năm 1773 bởi Johann Goeze, người đã đặt tên là Tardigrada.)
As I say, there are many different species of tardigrade - too many to describe here - but, generally speaking, the different species share similar physical traits. They have a body which is short, Q32, and also rounded - a bit like a barrel - and the body comprises four segments. Each segment has a pair of legs, at the end of which are between four and eight sharp claws. I should also say that some species don’t have any claws: what they have are discs, Q33, and these work by means of suction. They enable the tardigrade to cling to surfaces or to grip its prey. Within the body, there are no lungs, or any organs for breathing at all. Instead, oxygen and also blood are transported in a fluid that fills the cavity of the body. Q34 (Như tôi đã nói, có rất nhiều loài tardigrade khác nhau – quá nhiều để mô tả ở đây – nhưng nhìn chung chúng có các đặc điểm hình thái tương tự nhau. Chúng có cơ thể ngắn và tròn – giống như một chiếc thùng – và gồm bốn đốt. Mỗi đốt có một cặp chân, ở cuối mỗi chân có từ bốn đến tám móng vuốt sắc nhọn. Tôi cũng xin nói thêm rằng một số loài không có móng vuốt: thay vào đó là các đĩa bám hoạt động bằng lực hút. Những đĩa này giúp tardigrade bám vào bề mặt hoặc giữ chặt con mồi. Bên trong cơ thể không có phổi hay bất kỳ cơ quan hô hấp nào. Thay vào đó, oxy và máu được vận chuyển trong một chất lỏng lấp đầy khoang cơ thể.)
As far as the tardigrade’s head is concerned, the best way I can describe this is that it looks rather strange - a bit squashed even - though many of the websites I looked at described its appearance as cute, which isn’t exactly very scientific. The tardigrade’s mouth is a kind of tube Q35 that can open outwards to reveal teeth-like structures known as ‘stylets’. These are sharp enough to pierce plant or animal cells. (Về phần đầu của tardigrade, cách mô tả đúng nhất là nó trông khá kỳ lạ – thậm chí hơi bẹt – mặc dù nhiều trang web tôi xem mô tả nó là “dễ thương”, điều này không mấy mang tính khoa học. Miệng của tardigrade là một dạng ống có thể mở ra để lộ các cấu trúc giống răng gọi là “stylet”. Chúng đủ sắc để xuyên thủng tế bào thực vật hoặc động vật.)
So, where are tardigrades found? Well, they live in every part of the world, in a variety of habitats: most commonly, on the bed of a lake, or on many kinds of plants or in very wet environments. There’s been some interesting research which has found that tardigrades are capable of surviving radiation and very high pressure, and they’re also able to withstand temperatures as low as minus –200 degrees centigrade, or highs of more than 148 degrees centigrade, Q36, which is incredibly hot. (Vậy tardigrade được tìm thấy ở đâu? Chúng sống ở khắp nơi trên thế giới trong nhiều môi trường khác nhau, phổ biến nhất là dưới đáy hồ, trên nhiều loại thực vật hoặc trong môi trường rất ẩm ướt. Một số nghiên cứu thú vị cho thấy tardigrade có thể sống sót trước bức xạ và áp suất rất cao, đồng thời chịu được nhiệt độ thấp tới –200°C hoặc cao hơn 148°C – mức nhiệt cực kỳ nóng.)
It has been said that tardigrades could survive long after human beings have been wiped out, even in the event of an asteroid hitting the earth. If conditions become too extreme and tardigrades are at risk of drying out, they enter a state called cryptobiosis. They form a little ball, called a tun - that’s T-U-N - by retracting their head and legs, and their metabolism drops to less than one percent of normal levels. They can stay in this state for decades, and if re-introduced to water, when they will come back to life in a matter of a few hours. While in this state of cryptobiosis, tardigrades produce a protein that protects their DNA. Q37. In 2016, scientists revived two tardigrades that had been tuns for more than 30 years. There was a report that,in 1948, a 120-year-old tun was revived, but this experiment has never been repeated. There are currently several tests taking place in space, to determine how long tardigrades might be able to survive there. Q38. I believe the record so far is 10 day. (Người ta cho rằng tardigrade có thể tồn tại rất lâu sau khi loài người bị tuyệt chủng, ngay cả khi có thiên thạch va vào Trái Đất. Khi điều kiện trở nên quá khắc nghiệt và có nguy cơ bị khô, chúng bước vào trạng thái gọi là cryptobiosis. Chúng cuộn mình lại thành một khối nhỏ gọi là tun bằng cách rút đầu và chân vào trong, và quá trình trao đổi chất giảm xuống dưới 1% mức bình thường. Chúng có thể ở trạng thái này trong nhiều thập kỷ, và khi được đưa trở lại nước, chúng sẽ sống lại chỉ trong vài giờ. Trong trạng thái cryptobiosis, tardigrade tạo ra một loại protein giúp bảo vệ DNA của chúng. Năm 2016, các nhà khoa học đã hồi sinh hai tardigrade đã ở dạng tun hơn 30 năm. Có báo cáo rằng năm 1948, một tun 120 năm tuổi đã được hồi sinh, nhưng thí nghiệm này chưa từng được lặp lại. Hiện nay có nhiều thí nghiệm đang được tiến hành trong không gian để xác định tardigrade có thể sống được bao lâu ở đó. Kỷ lục hiện tại được cho là 10 ngày.)
So, erm, moving on. In terms of their diet, tardigrades consume liquids in order to survive. Although they have teeth, they don’t use these for chewing. They suck the juices from moss, or extract fluid from seaweed, Q39, but some species prey on other tardigrades, from other species or within their own. I suppose this isn’t surprising, given that tardigrades are mainly comprised of liquid and are coated with a type of gel. (Chuyển sang phần khác, về chế độ ăn, tardigrade cần tiêu thụ chất lỏng để tồn tại. Mặc dù có răng, chúng không dùng răng để nhai. Chúng hút dịch từ rêu hoặc chiết xuất chất lỏng từ rong biển, nhưng một số loài săn các tardigrade khác, kể cả cùng loài. Điều này không quá ngạc nhiên vì tardigrade chủ yếu được cấu tạo từ chất lỏng và được phủ bởi một lớp gel.)
Finally, I’d like to mention the conservation status of tardigrades. It is estimated that they have been in existence for approximately half a billion years and, in that time, they have survived five mass extinctions. So, it will probably come as no surprise to you, that tardigrades have not been evaluated by the International Union for Conservation of Nature and are not on any endangered list. Q40. Some researchers have described them as thriving. (Cuối cùng, tôi muốn đề cập đến tình trạng bảo tồn của tardigrade. Ước tính chúng đã tồn tại khoảng nửa tỷ năm và đã sống sót qua năm lần tuyệt chủng hàng loạt. Vì vậy, có lẽ không có gì ngạc nhiên khi tardigrade chưa được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đánh giá và không nằm trong bất kỳ danh sách nguy cấp nào. Một số nhà nghiên cứu mô tả chúng là đang phát triển rất mạnh.)
Does anyone have any questions they’d like to ask? (Có ai có câu hỏi nào muốn hỏi không?)
3. Đáp án IELTS Listening Cam 19 Test 2
|
1. Mathieson |
11. A |
21. A |
31. move |
|
2. beginners |
12. B |
22. B |
32. short |
|
3. college |
13. A |
23. B |
33. discs |
|
4. New |
14. B |
24. B |
34. oxygen |
|
5. 11/eleven (am) |
15. C |
25. E |
35. tube |
|
6. instrument |
16. A |
26. B |
36. temperatures |
|
7. ear |
17. C |
27. A |
37. protein |
|
8. clapping |
18. E |
28. C |
38. space |
|
9. recording |
19. A |
29. C |
39. seaweed |
|
10. alone |
20. B |
30. A |
40. endangered |

Giải thích chi tiết
Question 1. Mathieson
Thông tin trong bài: "...his name’s Gary Mathieson... It’s M-A-T-H-I-E-S-O-N."
Giải thích chi tiết: Đối với các câu hỏi về tên riêng trong Part 1, trọng tâm là bắt nhịp đánh vần từng chữ cái. Sau khi người nói xác nhận họ của điều phối viên (coordinator), quá trình đánh vần diễn ra chậm và rõ ràng. Việc ghi chép chính xác từng ký tự M-A-T-H-I-E-S-O-N là yêu cầu bắt buộc để hoàn thành họ của Gary.
Question 2. beginners
Thông tin trong bài: "...he said it was a class for beginners..."
Giải thích chi tiết: Tại mục "Level" (Trình độ), cần xác định đối tượng học viên mà lớp hướng tới. Mặc dù có các chi tiết gây nhiễu về việc học viên cảm thấy "hopeless" (vụng về), nhưng danh từ chỉ trình độ chuyên môn được nhắc đến trực tiếp là "beginners". Đây là từ khóa phân loại lớp học ngay từ khi Gary tư vấn qua điện thoại.
Question 3. college
Thông tin trong bài: "...he decided to book a room at the college in town."
Giải thích chi tiết: Có một sự thay đổi về địa điểm (venue shift). Ban đầu nhóm gặp tại nhà Gary ("Gary’s home"), nhưng do số lượng tăng lên, địa điểm đã chuyển sang "the college". Mạo từ "the" đứng trước chỗ trống trong đề bài là tín hiệu ngữ pháp chỉ một danh từ xác định, khớp hoàn toàn với "college".
Question 4. New
Thông tin trong bài: "...at the bottom of New Street near the city roundabout."
Giải thích chi tiết: Yếu tố gây nhiễu xuất hiện khi người phụ nữ hỏi về "Lock Street". Tuy nhiên, Coleman đã đính chính ngay sau đó bằng tên đường chính xác là "New Street". Trong Listening, tên đường luôn phải được viết hoa chữ cái đầu để đảm bảo quy tắc danh từ riêng.
Question 5. 11 / eleven
Thông tin trong bài: "It used to be 10.30... but now we meet at 11."
Giải thích chi tiết: Đây là dạng bài cập nhật thông tin (information update). Con số "10.30" là mốc thời gian cũ, đóng vai trò bẫy thông tin. Từ nối "but now" dẫn dắt người nghe đến mốc thời gian hiện tại là "11". Lý do được đưa ra là lớp học trước đó cần thêm 30 phút, giúp khẳng định logic của việc lùi giờ học.
Question 6. instrument
Thông tin trong bài: "There’s a website called ‘The perfect instrument’..."
Giải thích chi tiết: Đề bài yêu cầu điền tên trang web trong dấu ngoặc đơn. Cụm từ "The perfect" đã có sẵn, người nghe chỉ cần bắt danh từ theo sau. "Instrument" (nhạc cụ) là từ khóa chính xác hoàn thiện tên gọi của website chuyên bán guitar và các loại đàn khác.
Question 7. ear
Thông tin trong bài: "Some people have an app they use, but others do it by ear."
Giải thích chi tiết: Trong phần hoạt động chỉnh dây (tuning), audio cung cấp hai phương pháp đối lập. Phương pháp đầu tiên là dùng ứng dụng ("using an app") đã được in sẵn. Phương pháp thứ hai được nối bằng từ "but" là "by ear" (chỉnh bằng tai/cảm âm). Cấu trúc "by + noun" trong đề bài khớp với cụm "by ear" trong audio.
Question 8. clapping
Thông tin trong bài: "...Gary starts clapping to help us."
Giải thích chi tiết: Ghi chú trong bảng yêu cầu một hành động của giáo viên để giữ nhịp ("keeping time while the teacher is..."). Cấu trúc "is + V-ing" đòi hỏi một hiện tại phân từ. Audio mô tả Gary sử dụng hành động "clapping" (vỗ tay) để hỗ trợ học viên khi họ gặp khó khăn về nhịp điệu.
Question 9. recording
Thông tin trong bài: "He often brings a recording of the song and plays it to us first."
Giải thích chi tiết: Khi học hát và chơi nhạc, học viên sẽ nghe một nguồn âm thanh mẫu. Từ khóa "listening to a" dẫn đến danh từ "recording" (bản thu âm). Đây là vật thể chứa nội dung bài hát mà giáo viên cho cả lớp nghe trước khi thực hành.
Question 10. alone
Thông tin trong bài: "...he sometimes gets us to play one at a time – you know, alone."
Giải thích chi tiết: Hoạt động cuối cùng là chơi nhạc đơn lẻ. Trạng từ "together" (chơi cùng nhau) được đặt đối lập với "alone" (một mình) sau từ nối "then". Cụm từ "one at a time" trong lời thoại được chính người nói giải thích rõ hơn bằng từ "alone", đây cũng là đáp án ngắn gọn và chính xác nhất cho vị trí này.
Question 11. A
Thông tin trong bài: "...I’d been really keen on boats as a teenager... if I went to live by the sea, I might be able to pursue that interest a bit more in my free time."
Giải thích chi tiết: Động cơ chính được xác định là niềm đam mê với thuyền bè từ thời thiếu niên. Cụm từ "pursue that interest" (theo đuổi sở thích đó) là cách diễn đạt lại của "develop a hobby" (phát triển một sở thích).
Question 12. B
Thông tin trong bài: "...built 15 years ago with funds provided by a generous member of the public, who’d lived here all her life."
Giải thích chi tiết: Nguồn tài chính xây dựng trạm cứu hộ đến từ một cá nhân cụ thể. Cụm từ "member of the public" (một thành viên công chúng) kết hợp với chi tiết "lived here all her life" (sống ở đây cả đời) khớp hoàn toàn với khái niệm "local resident" (người dân địa phương).
Question 13. A
Thông tin trong bài: "They gave me tests for colour blindness and they thought I might have a problem there..."
Giải thích chi tiết: Điểm gây lo ngại của bác sĩ nằm ở khả năng phân biệt màu sắc. Mặc dù David từng bị cận thị và phẫu thuật laser, nhưng audio xác nhận các vấn đề này đều "OK". Trạng thái "thought I might have a problem" chỉ ra sự quan ngại (concerned) của bác sĩ đối với tình trạng "colour blindness" (mù màu).
Question 14. B
Thông tin trong bài: "...get there in five minutes, then we try to get the boat off the dock and out to sea in another six to eight minutes."
Giải thích chi tiết: Cần phân biệt hai mốc thời gian: thời gian đến trạm (5 phút) và thời gian hạ thủy sau khi đã đến trạm. Câu hỏi yêu cầu thời gian hạ thủy ("launch the boat") sau khi đã có mặt, vì vậy con số "six to eight minutes" là đáp án chính xác. Con số "eight and a half minutes" là giá trị trung bình quốc gia, đóng vai trò thông tin gây nhiễu.
Question 15. C
Thông tin trong bài: "And it’s ultimately my decision whether it’s safe to launch the boat."
Giải thích chi tiết: Vai trò "helmsman" (thuyền trưởng/người lái chính) đi kèm với quyền hạn tối cao trong việc vận hành. Audio sử dụng cụm "ultimately my decision" để nhấn mạnh trách nhiệm quyết định việc ra khơi có an toàn hay không, tương ứng với phương án C.
Question 16. A
Thông tin trong bài: "...I speak to youth groups and sailing clubs in the area about the sorts of problems that sailors and swimmers can have..."
Giải thích chi tiết: Hoạt động bổ trợ của David liên quan đến việc giáo dục cộng đồng. Cụm "speak to youth groups" đồng nghĩa với việc "gives talks" (diễn thuyết/nói chuyện). Nội dung về các vấn đề thời tiết xấu gây nguy hiểm cho người đi biển tương ứng với chủ đề "safety at sea" (an toàn trên biển).
Question 17 and 18: C, E
Thông tin trong bài: "...it’s given me the confidence to deal with extreme situations without panicking." / "They had a wave-tank... so we could get experience at what to do if the boat turned over..."
Giải thích chi tiết: Đáp án C được lựa chọn vì việc xây dựng sự tự tin và không hoảng loạn trong tình huống cực đoan chính là quá trình rèn luyện "mental strength" (sức mạnh tinh thần). Đáp án E được xác nhận qua chi tiết về "wave tank" (bể tạo sóng) để luyện tập xử lý khi thuyền bị lật, đây là một phần của "survival techniques" (kỹ thuật sinh tồn).
Question 19 and 20: A, B
Thông tin trong bài: "They’re a great group – we’re like a family really..." / "But actually, it’s the colder months that can be the most rewarding time."
Giải thích chi tiết: Động lực đầu tiên (A) đến từ sự gắn kết bền chặt như gia đình của đội ngũ, tương ứng với "working as part of a team". Động lực thứ hai (B) nằm ở giá trị công việc trong "colder months" (tháng lạnh/mùa đông), khi David cảm thấy mình có thể tạo ra sự khác biệt lớn nhất ("make a huge difference"), khớp với "experiences when working in winter".
Dưới đây là phân tích chi tiết đáp án cho phần IELTS Listening Part 3 về chủ đề tái chế giày dép, áp dụng theo đúng form mẫu chuẩn đã thống nhất.
Question 21: A
Thông tin trong bài: "...perhaps there isn’t enough to say about it, cos we put shoes in recycling bins, they go to charity shops and that’s about it."
Giải thích chi tiết: Tín hiệu bắt đầu bằng việc nhân vật bộc lộ sự hoài nghi về độ sâu của chủ đề. Cụm từ "isn’t enough to say about it" và "that’s about it" đóng vai trò là từ khóa then chốt, chỉ ra rằng nội dung thảo luận bị giới hạn, không có nhiều khía cạnh để khai thác. Điều này hoàn toàn khớp với khái niệm "limited in scope" (hạn chế về phạm vi) trong đáp án. Các phương án về độ khó nghiên cứu hay tính nhàm chán không được xác nhận là lý do chính cho sự phân vân này.
Question 22: B
Thông tin trong bài: "...look a bit casual for school uniform? I don’t think they’re right for that." - "Actually, I think some of them look quite smart on pupils..."
Giải thích chi tiết: Điểm mấu chốt là sự đối lập trong quan điểm về tính phù hợp của giày thể thao trong môi trường giáo dục. Từ khóa "casual" (xuề xòa) và "not right" (không đúng/không phù hợp) từ phía nam sinh viên tương phản trực tiếp với từ "smart" (lịch sự) từ phía nữ sinh viên. Cả hai luồng ý kiến đều tập trung vào việc giày thể thao có phù hợp với đồng phục học sinh hay không, dẫn đến đáp án "how suitable they are for school".
Question 23: B
Thông tin trong bài: "...shoes, that haven’t gone out of fashion and still fit, just because they don’t look great on me any more."
Giải thích chi tiết: Đáp án được xác định thông qua phương pháp loại trừ trực tiếp trong lời nói. Nhân vật khẳng định đôi giày vẫn còn hợp mốt ("haven't gone out of fashion" - loại C) và vẫn vừa vặn ("still fit" - loại A). Lý do duy nhất được đưa ra là cảm quan cá nhân khi chúng "không còn trông đẹp trên tôi", tương ứng với việc nhân vật không còn yêu thích món đồ đó nữa ("no longer likes them").
Question 24: B
Thông tin trong bài: "...the amount of recycled footwear has fallen: it’s 6 percent now compared to a previous level of 11 percent. That doesn’t seem to make sense."
Giải thích chi tiết: Sự nhầm lẫn của nhân vật xuất phát từ một nghịch lý về số liệu. Tỷ lệ tái chế được nêu rõ là đã "fallen" (giảm) từ mức 11% trong quá khứ xuống còn 6% ở hiện tại. Logic ở đây là sự so sánh giữa hai mốc thời gian, xác nhận rằng lượng giày dép được tái chế hiện tại ít hơn so với trước đây ("less... than in the past").
Question 25: E
Thông tin trong bài: "...heels were too stained with mud and grass to re-sell them."
Giải thích chi tiết: Lý do từ chối đôi giày cao gót được cụ thể hóa bằng tình trạng bề mặt. Cụm từ "stained with mud and grass" (bị vấy bẩn bởi bùn và cỏ) là tín hiệu hình ảnh cho trạng thái vệ sinh kém. Tính từ "stained" dẫn trực tiếp đến kết luận giày bị quá bẩn ("too dirty"), khiến chúng không còn giá trị bán lại.
Question 26: B
Thông tin trong bài: "...one of the shoes was a much lighter shade than the other one – it had obviously been left in the sun."
Giải thích chi tiết: Đối với đôi bốt cổ ngắn, lỗi nằm ở sự không đồng nhất về màu sắc. Cụm "lighter shade" (sắc thái nhạt hơn) kết hợp với nguyên nhân "left in the sun" (bị phơi nắng) chỉ ra hiện tượng biến đổi màu sắc vật lý. Điều này khớp với mô tả màu sắc bị phai đi ("colour had faded") trong bảng lựa chọn.
Question 27: A
Thông tin trong bài: "You’d think it would have been easy to find the other, but it wasn’t."
Giải thích chi tiết: Logic của câu này dựa trên việc xác định đơn vị sản phẩm. Khi nhắc đến đôi giày trẻ em, nhân vật đề cập đến nỗ lực tìm kiếm "the other" (chiếc còn lại) nhưng thất bại. Việc không tìm thấy chiếc thứ hai của một đôi giày đồng nghĩa với việc một chiếc đã bị thất lạc, tương ứng với "one shoe was missing".
Question 28: C
Thông tin trong bài: "...one of the soles was so worn under the foot that you could put your finger through it."
Giải thích chi tiết: Đáp án được xác định thông qua việc mô tả hư tổn vật lý ở phần đế giày ("sole"). Hình ảnh "put your finger through it" (xỏ ngón tay xuyên qua) là cách diễn đạt ẩn dụ cho việc tồn tại một lỗ thủng do mòn. Đây là logic suy luận từ tình trạng hỏng hóc thực tế sang danh từ "hole" trong đáp án.
Question 29: C
Thông tin trong bài: "It was because the pairs of shoes weren’t identical."
Giải thích chi tiết: Nguyên nhân thất bại của dự án ghép giày được nêu rõ qua tính chất của sản phẩm cuối cùng. Từ khóa "not identical" (không đồng nhất/không giống hệt nhau) là một từ đồng nghĩa trực tiếp với cụm "not completely alike". Thông tin về vi khuẩn (unhygienic) chỉ là suy đoán của cá nhân và đã bị bác bỏ trong hội thoại.
Question 30: A
Thông tin trong bài: "...we can show that by taking a very different approach to it."
Giải thích chi tiết: Kết luận của bài thảo luận xoay quanh phương pháp trình bày bài thuyết trình. Cụm từ "taking a very different approach" (tiếp cận theo một cách rất khác) chỉ ra sự thay đổi trong tư duy và góc nhìn về vấn đề. Cách diễn đạt này tương đương với việc trình bày chủ đề dưới một góc độ mới ("from a new angle").
Question 31: move
Thông tin trong bài: "...and ‘bear’ because of the way they move."
Giải thích chi tiết: Tín hiệu bắt đầu bằng việc giải thích biệt danh "water bears". Audio tách biệt hai phần của tên gọi: "water" liên quan đến môi trường sống và "bear" liên quan đến "the way they move" (cách chúng di chuyển). Động từ move là từ khóa trực tiếp hoàn thiện ghi chú về lý do tên gọi dựa trên hành vi vận động của sinh vật.
Question 32: short
Thông tin trong bài: "They have a body which is short, and also rounded - a bit like a barrel..."
Giải thích chi tiết: Audio chuyển sang mô tả ngoại hình. Tính từ short xuất hiện trong một chuỗi liệt kê các đặc điểm của cơ thể cùng với "rounded" (tròn) và "barrel-like" (giống cái thùng). Đây là tính từ mô tả kích thước cơ thể, đứng trước và bổ nghĩa cho "round body" như yêu cầu của đề bài.
Question 33: discs
Thông tin trong bài: "...some species don’t have any claws: what they have are discs, and these work by means of suction."
Giải thích chi tiết: Cấu trúc bài nói sử dụng sự tương phản để đưa ra đáp án. Sau khi nhắc tới "claws" (móng vuốt), diễn giả đề cập đến một số loài khác không có bộ phận này mà thay vào đó là discs (các đĩa bám). Chức năng của chúng được giải thích là dùng lực hút để bám hoặc giữ mồi ("grip its prey"), khớp hoàn toàn với mục tiêu "gripping" trong đề bài.
Question 34: oxygen
Thông tin trong bài: "Instead, oxygen and also blood are transported in a fluid that fills the cavity of the body."
Giải thích chi tiết: Tín hiệu âm thanh quan trọng là sự xác nhận vắng mặt của cơ quan hô hấp ("no lungs", "no organs for breathing"). Ngay sau đó, cơ chế thay thế được giải thích qua việc vận chuyển đồng thời oxygen và "blood" trong một loại chất lỏng (fluid). Từ khóa oxygen là danh từ còn thiếu để hoàn thiện cặp thành phần được chất lỏng trong cơ thể mang đi.
Question 35: tube
Thông tin trong bài: "The tardigrade’s mouth is a kind of tube that can open outwards..."
Giải thích chi tiết: Hình dáng miệng được mô tả thông qua một phép so sánh trực tiếp. Audio sử dụng cấu trúc "is a kind of" để định nghĩa hình dạng miệng là một cái tube (ống). Thông tin bổ sung về "stylets" (răng) ngay sau đó giúp người nghe xác nhận đã bắt đúng vị trí thông tin cần tìm.
Question 36: temperatures
Thông tin trong bài: "...withstand temperatures as low as minus –200 degrees centigrade, or highs of more than 148 degrees centigrade..."
Giải thích chi tiết: Diễn giả liệt kê các thông số khắc nghiệt mà sinh vật có thể chịu đựng. Các con số cụ thể về độ C là những ví dụ điển hình cho danh từ bao quát temperatures (nhiệt độ). Đây là từ khóa phân loại cho hai trạng thái "low" và "high" được đề cập trong bản tóm tắt.
Question 37: protein
Thông tin trong bài: "...tardigrades produce a protein that protects their DNA."
Giải thích chi tiết: Trong phần về trạng thái "Cryptobiosis", cơ chế bảo vệ DNA được làm rõ. Audio khẳng định sinh vật này tạo ra ("produce") một loại protein để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ này. Từ "ensures... is not damaged" trong đề bài là cách diễn đạt lại của "protects" trong bài nghe.
Question 38: space
Thông tin trong bài: "There are currently several tests taking place in space, to determine how long tardigrades might be able to survive there."
Giải thích chi tiết: Audio đề cập đến các cuộc thử nghiệm hiện tại ("several tests"). Địa điểm thực hiện các thử nghiệm này để kiểm tra giới hạn thời gian sinh tồn chính là space (không gian). Từ khóa này xuất hiện làm tân ngữ cho trạng thái sống sót ("stay alive in...").
Question 39: seaweed
Thông tin trong bài: "They suck the juices from moss, or extract fluid from seaweed..."
Giải thích chi tiết: Chế độ ăn (Feeding) được liệt kê theo cấu trúc lựa chọn hoặc bổ sung. Sau ví dụ về "moss" (rêu), từ nối "or" dẫn dắt đến nguồn chất lỏng thứ hai là seaweed (rong biển). Danh từ này là đáp án cần điền vào vị trí liệt kê các nguồn thực phẩm dạng lỏng.
Question 40: endangered
Thông tin trong bài: "...tardigrades have not been evaluated... and are not on any endangered list."
Giải thích chi tiết: Tình trạng bảo tồn được kết luận dựa trên thông tin về sự bền bỉ của loài qua các đợt tuyệt chủng. Cụm từ "not on any endangered list" (không nằm trong danh sách nguy cấp) được dùng để khẳng định sinh vật này không bị xem là endangered (nguy cấp). Trạng thái "thriving" (phát triển mạnh) ở cuối bài càng củng cố cho logic này.
>> Xem thêm: Giải đề IELTS Listening Test 1 Cambridge 9: Transcript and Answer
4. Khoá học Online tại Langmaster
Nhiều thí sinh IELTS gặp khó khăn trong Listening, không phải vì họ không hiểu, mà là chưa biết cách nắm bắt keyword và nhận diện paraphrase trong đề thi. Việc bỏ lỡ những chi tiết quan trọng khiến điểm số khó cải thiện dù đã luyện tập nhiều.
Chính vì vậy, Langmaster - trung tâm IELTS uy tín nhất thị trường hiện nay, đã xây dựng khoá học IELTS Online chuyên sâu, giúp học viên không chỉ rèn luyện kỹ năng nghe từ cơ bản đến nâng cao mà còn đồng thời phát triển hiệu quả các kỹ năng còn lại.
Ưu điểm của khoá học IELTS Online tại Langmaster:
-
Coaching 1:1 cùng chuyên gia: Học viên được hỗ trợ trực tiếp từ giảng viên để giải quyết điểm yếu cụ thể, giúp bứt phá điểm số nhanh chóng với chiến lược làm bài hiệu quả.
-
Lộ trình học cá nhân hóa theo mục tiêu band: Dựa trên bài kiểm tra đầu vào, Langmaster thiết kế kế hoạch học tập phù hợp nhất với trình độ và mục tiêu của từng học viên, giúp học đúng trọng tâm và tiết kiệm thời gian.
-
Học trong mô hình sĩ số nhỏ (7–10 học viên): Giúp tăng mức độ tương tác và đảm bảo giáo viên theo sát tiến độ học của từng học viên, điều chỉnh phương pháp giảng dạy kịp thời.
-
Chấm chữa chi tiết trong 24h bởi giảng viên IELTS 7.5+: Giúp học viên nhận diện và khắc phục các lỗi thường gặp, từ đó cải thiện độ chính xác và sự tự tin.
-
Thi thử chuẩn format đề thi thật: Giúp học viên làm quen với áp lực phòng thi, rèn luyện phản xạ xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác.
-
Học online với hệ sinh thái hỗ trợ đầy đủ và cam kết đầu ra bằng văn bản: Đảm bảo chất lượng học tập tương đương với học offline và lộ trình theo đuổi mục tiêu band điểm hiệu quả.
Đăng ký học thử IELTS Online tại Langmaster ngay hôm nay để bắt đầu hành trình chinh phục mục tiêu IELTS của bạn!







